Thứ Ba, 28 tháng 6, 2011

Top 20 nước có dự trữ vàng lớn nhất thế giới

Mỹ đứng đầu cả về giá trị và tỷ lệ dự trữ vàng trong tổng dự trữ ngoại hối. Trung Quốc và Ấn Độ chỉ khiêm tốn ở vị trí thứ 5 và 10.



Mặc dù đứng ở thứ hạng cao nhưng các nước như Đức, Italiy, Pháp, Thụy Sĩ không ảnh hưởng tới thị trường vàng nhiều như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và Nga. Những thông tin từ 4 nước này có thể tác động thay đổi xu hướng giá của vàng. Và thời gian này, 4 nước đồng loạt tăng mạnh mua vào vàng.




Trong tháng 5/2011, nhu cầu vàng của Ấn Độ tăng 25% khiến giá trị nhập khẩu tăng 500% so với tháng trước và tăng 222% so với cùng kỳ năm ngoái.Tháng 5, giá trị nhập khẩu vàng bạc tại nước tiêu dùng vàng lớn nhất thế giới tăng lên mức kỷ lục 8,96 tỷ USD.


Các nhà phân tích cho rằng việc Ngân hàng Trung ương Ấn Độ cấp giấy phép nhập khẩu cho 7 ngân hàng nữa nhập vàng khối đã thúc đẩy nhu cầu kim loại quý. Kể từ đầu năm 2011, có khoảng 30 ngân hàng tại Ấn Độ được cấp phép nhập vàng và bạc. Hiện Ấn Độ vẫn là nước tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới


Trung Quốc cũng tăng cường nhập khẩu vàng. Phó thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc cho biết trong 2 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu vàng của Trung Quốc đạt 200 tấn, bằng 2/3 lượng vàng nhập trong cả năm 2010.


Hội đồng vàng thế giới nhận định đầu tư vàng của Trung Quốc có thể tăng 40 - 50% trong năm nay. Nhu cầu tại Trung Quốc gần như tăng gấp ba lần lên 580 tấn trong năm ngoái từ 206 tấn vào năm 2001. Tiêu thụ vàng tại Trung Quốc và Ấn Độ chiếm 40% tổng cầu thế giới.


Trong tháng 3, Ngân hàng trung ương Nga mua thêm 11.8 tấn vàng, đưa tổng lượng vàng dự trữ lên 811,1 tấn.


Danh sách 20 quốc gia có dự trữ vàng lớn nhất thế giới


1. MỹTổng lượng vàng dự trữ: 8.133,5 tấn
Vàng chiếm 74,8% tổng dự trữ ngoại hối của Mỹ.
2. ĐứcTổng lượng vàng dự trữ: 3.401,0 tấn
Vàng chiếm 70,8% tổng dự trữ ngoại hối.
3. ItalyTổng lượng vàng dự trữ: 2.451,8 tấn
Vàng chiếm 69% tổng dự trữ ngoại hối.
4. PhápTổng lượng vàng dự trữ: 2.435,4 tấn
Vàng chiếm 65,9% tổng dự trữ ngoại hối.
5. Trung QuốcTổng lượng vàng dự trữ: 1.054,1 tấn
Vàng chiếm 1,6% tổng dự trữ ngoại hối.
6. Thụy SĩTổng lượng vàng dự trữ: 1.040,1 tấn
Vàng chiếm 16.3% tổng dự trữ ngoại hối.
7. NgaTổng lượng vàng dự trữ: 792,3 tấn
Vàng chiếm 7,3% tổng dự trữ ngoại hối.
8. Nhật BảnTổng lượng vàng dự trữ: 765,2 tấn
Vàng chiếm 3,1% tổng dự trữ ngoại hối.
9. Hà LanTổng lượng vàng dự trữ: 612,5 tấn
Vàng chiếm 58.5% tổng dự trữ ngoại hối.
10. Ấn ĐộTổng lượng vàng dự trữ: 557,7 tấn
Vàng chiếm 8,3% tổng dự trữ ngoại hối.
11. Đài LoanTổng lượng vàng dự trữ: 423,6 tấn
Vàng chiếm 4,7% tổng dự trữ ngoại hối.
12. Bồ Đào NhaTổng lượng vàng dự trữ: 382,5 tấn.
Vàng chiếm 82% tổng dự trữ ngoại hối.
13. VenezuelaTổng lượng vàng dự trữ: 365,8 tấn
Vàng chiếm 54% tổng dự trữ ngoại hối.
14. Saudi ArabiaTổng lượng vàng dự trữ: 322,9 tấn
Vàng chiếm 3% tổng dự trữ ngoại hối.
15. AnhTổng lượng vàng dự trữ: 310,3 tấn
Vàng chiếm 16% tổng dự trữ ngoại hối.
16. Li BăngTổng lượng vàng dự trữ: 286,8 tấn
Vàng chiếm 29% tổng dự trữ ngoại hối.
17. Tây Ban NhaTổng lượng vàng dự trữ: 281,6 tấn
Vàng chiếm 39,2% tổng dự trữ ngoại hối.
18. AustriaTổng lượng vàng dự trữ: 280 tấn
Vàng chiếm 55.4% tổng dự trữ ngoại hối.
19. BỉTổng lượng vàng dự trữ: 227,5 tấn
Vàng chiếm 37,4% tổng dự trữ ngoại hối.
20. AlgeriaTổng lượng vàng dự trữ: 173,6 tấn
Vàng chiếm 4,3% tổng dự trữ ngoại hối.


InfoTv

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2011

Mỹ: Những dự báo kinh tế mới nhất từ cuộc họp của FOMC

Những điểm đáng lưu ý được công bố trong cuộc họp ngày 23/06/2011 của các thành viên Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC) nhận định về tình hình kinh tế Mỹ






  • Tiếp tục giữ nguyên mức lãi suất cơ bản không đổi ở mức <0.25%;

  • Hạ dự báo về tăng trưởng kinh tế Mỹ trong năm 2011;

  • Không đề cập nhiều đến yếu tố lạm phát;

  • Không hề nhắc đến QE3 sau khi gói QE2 kết thúc vào ngày 30/6 này.



Dưới đây là những dự báo mới nhất về kinh tế Mỹ được công bố từ Hội đồng thành viên FOMC và chủ tịch FOMC tại cuộc họp mới nhất (trích từ website của Cục dự trữ liên bang Mỹ-Fed)




Ghi chú


-Các dự báo về sự thay đổi tổng sản phẩm quốc nội thực tế (GDP) và dự báo cho 2 phương pháp đo lường mức độ lạm phát tính từ quí 4 của năm trước đến quí 4 của năm đưa ra dự báo. Yếu tố lạm phát PCE và lạm phát lõi PCE là tỷ lệ % thay đổi, tương ứng với đó là chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (personal consumption expenditures - viết tắt là PCE) và chỉ số giá PCE không bao gồm thực phẩm và năng lượng.


-Các dự báo về tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ số người thất nghiệp trung bình trong quí 4 của năm hiển thị.


-Mỗi dự báo của những thành viên tham gia được dựa trên đánh giá của họ đối với chính sách tiền tệ thích hợp.


-Những dự đoán dài hơi đại diện cho sự đánh giá của mỗi thành viên tham gia về tỷ lệ biến động mà ảnh hưởng của nó được kỳ vọng sẽ hội tụ trong chính sách tiền tệ phù hợp và không có sự tương tác đối với những cú sốc xa hơn với nền kinh tế.


-Các dự báo đã được thực hiện trong tháng 4 kết hợp với cuộc họp định kỳ của Cục dự trữ liên bang (Fed) vào ngày 26-27/4.


-Xu hướng trọng tâm không bao gồm 3 dự đoán cao nhất và 3 dự đoán thấp nhất đối với mỗi biến động của từng năm.


-Biên độ biến động của năm cho sẵn bao gồm tất cả dự đoán của các thành viên tham gia, từ cái thấp nhất đến cao nhất đối với mỗi biến động trong năm đó.


-Các dự báo dài hơi đối với lạm phát lõi PCE không được lựa chọn.


Dưới đây là biểu đồ dự báo kinh tế về xu hướng trọng tâm và biên độ, năm 2011-2013 và xa hơn






Chú thích: việc xác định biến động được ghi chú trong bảng dự đoán. Dữ liệu đối với những biến động cập nhật hàng năm.


*Giải thích các biểu đồ dự báo


Các biểu đồ trình diễn các giá trị thực tế và mỗi dự báo đối với 3 biến động của nền kinh tế:
  • Sự thay đổi Tổng sản phẩm quốc nội thực tế (GDP) - được đo lường từ quí 4 năm trước đến quí 4 năm hiển thị với các giá trị được đánh dấu vào thời điểm kết thúc năm.

  • Tỷ lệ thất nghiệp-tỷ lệ số người thất nghiệp trung bình trong quí 4 mỗi năm với các giá trị được đánh dấu mỗi khi năm kết thúc.

  • Lạm phát PCE-được đo lường bởi sự thay đổi chỉ số tiêu dùng cá nhân (PCE) từ quí 4 năm trước đến quí 4 năm hiển thị với các giá trị được đánh dấu vào thời điểm kết thúc năm.



Các thông tin về những biến động này được thể hiện cho từng năm từ 2006 đến 2013 và cho các năm sau.


Dòng cô đặc trên biểu đồ được gắn nhãn "thực tế" cho thấy giá trị lịch sử đối với mỗi biến động.


Các khu vực bóng mờ nhẹ đại diện cho biên độ dự đoán của các nhà hoạch định chính sách. Bên dưới phạm vi của mỗi biến động là mức thấp nhất của tất cả các dự đoán cho từng năm hoặc từng thời kỳ. Tương tự như  vậy, phía trên phạm vi mỗi biến động là mức cao nhất của tất cả các dự đoán cho từng năm hoặc từng thời kỳ.


Khu vực bóng mờ tối hơn đại diện cho xu hướng trung tâm, là phiên bản hẹp của phạm vi biến động không bao gồm 3 dự đoán cao nhất và 3 dự đoán thấp nhất cho mỗi biến động trong từng năm hoặc từng thời kỳ.


Các dự báo xa hơn, được thể hiện ở góc bên phải của đồ thị, chính là tỷ lệ tăng trưởng, thất nghiệp và lạm phát mà các nhà hoạch định chính sách kỳ vọng nền kinh tế cùng hội tụ theo thời gian, có thể mất 5 hoặc 6 năm để tránh những cú sốc và theo một chính sách tiền tệ thích hợp. Bởi vì theo định nghĩa, một chính sách tiền tệ thích hợp là nhằm đạt được mục tiêu kép là tạo việc làm tối đa cho người lao động và bình ổn giá cả trong dài hạn. Dự đoán dài hạn của các nhà hoạch định chính sách về tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp có thể được diễn giải một cách tương ứng là việc ước tính tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng dài hạn của nền kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp bình thường trong dài hạn. Tương tự như vậy, những dự báo dài hạn về lạm phát đối với tỷ lệ lạm phát của mỗi nhà hoạch định chính sách thẩm định phải nhất quán với nhiệm vụ kép của Cục dự trữ liên bang (Fed) trong dài hạn.


goldandforex168

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2011

Khi nào NHTW áp dụng chương trình nới lỏng định lượng (QE)?

Công cụ cơ bản mà các NHTW dùng để kiểm soát cung tiền là lãi suất. Nhưng khi lãi suất tiến sát ngưỡng 0% thì hiệu quả của công cụ này giảm sút. Khi đó, QE được áp dụng.
Vậy QE là gì và hiệu quả ra sao?
Các ngân hàng trung ương thường sử dụng hai công cụ cơ bản để kiểm soát nguồn cung tiền.
Thứ nhất, các ngân hàng trung ương có thể thiết lập lãi suất để khuyến khích hoặc cắt giảm chi tiêu. Lãi suất càng thấp thì chi phí đi vay càng thấp, từ đó kích thích chi tiêu và vay mượn. Tuy nhiên, lãi suất không thể xuống dưới 0%. Khi tiến gần đến giới hạn này, lãi suất trở nên ít hiệu quả hơn, và do đó, các ngân hàng trung ương buộc phải sử dụng chương trình nới lỏng định lượng (QE).


Cụ thể, các ngân hàng trung ương tiến hành in tiền và ghi nợ vào tài khoản của mình. Tiếp đó, các ngân hàng trung ương sử dụng số tiền này để mua tài sản từ các ngân hàng nên các ngân hàng này sẽ có rất nhiều tiền mặt.


Kỳ vọng của các ngân hàng trung ương là các ngân hàng sẽ sử dụng số tiền này cho các doanh nghiệp và người dân vay để đầu tư hoặc chi tiêu, từ đó kích thích nền kinh tế. Tuy nhiên, không có gì đảm bảo rằng, các ngân hàng này sẽ cho doanh nghiệp và người dân vay tiền.
Bên cạnh đó, QE cũng đem lại nhiều rủi ro như gây ra lạm phát do các ngân hàng trung ương in quá nhiều tiền. Còn nếu in ít tiền, QE sẽ không hiệu quả.
Với những bất đồng sâu sắc về hiệu quả của QE và rủi ro quá lớn kèm theo, kết quả mà chương trình này mang lại vẫn còn là một ẩn số.


Theo Phạm Thị Phước
Vietstock 

Phân tích kỹ thuật: giao dịch theo mô hình giá

EUR/USD:


Mô hình giá bearish bat được tôi phân tích trong bài EUR/USD ngày 09/6 đã phát huy hiệu quả. Chỉ trong 2 ngày 09 và 10/6, đồng euro đã mất hơn 300 điểm. Đến đây có thể xem như quá trình điều chỉnh euro cơ bản đã hoàn thành về mặt kỹ thuật.


Vùng giá 1.4300 được xem là ngưỡng hỗ trợ kỹ thuật cho cặp tiền này. Mua quanh vùng giá này, profit theo mô hình giá sóng wofle tăng đang hình thành trên chart weekly. Mục tiêu dài hạn 1.5100 (Hy Lạp phải đạt được thỏa thuận giải cứu trước tháng 7/2011).








AUD/USD: bullish gartley



Trạng thái lệnh: Buy limit 1.0484, profit 1.0600, loss 1.0460







goldandforex168

Tuần tới: Sự tập trung hướng vào đồng usd

Doanh số bán lẻ của Mỹ sẽ là thông tin được quan tâm nhất trong tuần lễ kinh tế 13/6-17/06/2011.


Khép lại phiên giao dịch tuần kinh tế 06/06-12/06/2011 nổi lên những sự kiện nổi bật sau đây:




1. Chỉ số usd index tăng điểm mạnh liên tiếp trong 2 phiên giao dịch cuối tuần.


2. Đồng euro trượt giảm mạnh sau khi chạm mức cao gần 1.4700 usd đổi 1 euro.


3. Yên Nhật đóng cửa phiên giao dịch cuối tuần không đổi so với giá mở cửa đầu tuần.


4. Đô la Úc trượt giảm mạnh vào ngày thứ 5 do ảnh hưởng bởi số liệu việc làm gây thất vọng và sự sụt giảm thương mại của Trung Quốc.


5. Đô la New Zealand vẫn đứng ở mức cao sau những bình luận của các quan chức NHTW (RBNZ).


6. Đô la Canada mất điểm mạnh do giá dầu tụt giảm dù thông tin việc làm rất tích cực (tham khảo sự liên quan giữa giá dầu và nền kinh tế Canada tại đây.


Như vậy, đồng tiền tăng điểm ấn tượng trong phiên giao dịch tuần qua chính là đô la Mỹ. Việc đồng bạc xanh có phiên tăng điểm mạnh tuần qua không phải đến từ dữ liệu kinh tế Mỹ cho dù một vài chỉ số về thương mại cũng như ngân sách có cải thiện chút đỉnh, mà đồng tiền này tăng điểm là do cảm xúc chi phối thị trường.


Từ đầu tháng đến nay, các thông tin kinh tế gây thất vọng đã thu hút mối quan tâm lớn của thế giới về quá trình hồi phục của nền kinh tế toàn cầu. Với Mỹ, vốn được xem là đầu tàu của sự tăng trưởng đã thất bại trong các cuộc mặc cả của chính họ và tình hình trở nên u ám hơn khi tăng trưởng việc làm tháng trước thiếu động lực và sinh khí.


Với Trung Quốc, vốn được chọn để lung lay Mỹ thì tiếp tục nhập khẩu ồ ạt nhưng xuất khẩu chững lại theo số liệu thương mại mới nhất, làm gia tăng mối quan tâm về sự bền vững giữa tăng trưởng và nhu cầu tại quốc gia này.


Còn Châu Âu thì vẫn đang vật lộn với khủng hoảng nợ công, trong khi Anh thì theo chân Mỹ trong việc công bố các dữ liệu kinh tế thất vọng.


Đây được cho là những ảnh hưởng dẫn đến các đồng tiền giao dịch trên thị trường ngoại hối biến động không đồng nhất.


Tuần kinh tế vừa qua tuy không có dữ liệu quan trọng từ phía Mỹ, nhưng những phát biểu từ các thành viên của Cục dự trữ liên bang (Fed) là Ben Bernanke, Dudley và Yellen (những thành viên có quyền bỏ phiếu của Ủy ban Thị trường mở liên bang -FOMC) đã bày tỏ sự lo lắng về viễn cảnh của nền kinh tế toàn cầu. Đơn cử như thành viên Fed Dudley - chủ tịch ngân hàng New York được xem là người bi quan hơn các đồng nghiệp cho rằng kinh tế Mỹ quí 2 có thể sẽ không như họ mong muốn và tăng trưởng trong quí 2 có thể dưới mức trung bình. Còn với Bernanke - người đứng đầu Fed thì mong muốn kinh tế sẽ tốt hơn trong quí 2 nhưng sẽ xoay quanh vấn đề tăng trưởng việc làm và sự nhảy vọt trong chi tiêu tiêu dùng.


Do vậy các thông tin liên quan đến tiêu dùng sẽ được chú ý trong tuần tới.


Một trong số các thông tin quyết định đến yếu tố tiêu dùng sẽ được công bố trong tuần tới đó là doanh số bán lẻ. Chỉ số này nếu tăng mạnh có thể làm giảm bớt những lo ngại hiện nay về sự hồi phục của kinh tế Mỹ. 


Theo báo cáo của các nhà bán lẻ tư nhân, doanh số bán lẻ có thể đã tăng trong tháng 5 này nhưng sẽ vẫn thấp hơn so với tháng trước. Đối với các nhà bán lẻ các mặt hàng cao cấp, doanh số dường như tốt hơn so với nhà bán lẻ các mặt hàng thông thường. Trong khi đó doanh số bán gas sẽ cho lợi nhuận tốt nhờ giá cao.


Theo khảo sát của giới phân tích, doanh số bán lẻ tháng 5 công bố vào ngày thứ 3 tới sẽ thấp hơn kỳ trước do dự đoán chi tiêu tiêu dùng sẽ giảm do giá cả tăng cao. Nếu chỉ số này thấp hơn kỳ vọng, đồng usd sẽ tiếp tục mở rộng các mức giảm do điều đó cho thấy việc tăng lãi suất sẽ không diễn ra trước quí 2 năm sau. Còn nếu chỉ số này mạnh, cơ hội tăng lãi suất trước quí 2 năm sau tuy không rõ ràng nhưng ít nhất nó cũng cho thấy sự sụt giảm Bảng lương nông nghiệp tháng vừa rồi chỉ là một tháng kém may mắn đối với đà phục hồi của kinh tế Mỹ.


Những dữ liệu kinh tế Mỹ còn lại như chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá sản xuất (PPI), đầu tư ròng (Tic-long term),... nếu công bố xấu sẽ khiến cho triển vọng kinh tế Mỹ thêm ảm đạm. Dự đoán các chỉ số này ở mức trung bình, tuy nhiên lĩnh vực đầu tư nước ngoài vào Mỹ, lĩnh vực sản xuất công nghiệp sẽ có sự gia tăng rõ rệt.


Đồ thị kỹ thuật cho thấy usd index đã hoàn tất mẫu hình vai đầu vai ngược và đang gặp kháng cự tại mức cản fibo retracement 50.0 của quá trình giảm điểm. 


Nhận định: chỉ số usd index có thể tăng lên sát vùng 75.0, sau đó có thể tiếp tục chuỗi giảm điểm.






goldandforex168

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

10 phát ngôn bất hủ trên thị trường chứng khoán



Thị trường tài chính đã trải qua hàng trăm năm, và tại đây luôn có những quan điểm hay lời khuyên của họ luôn có sức ảnh hưởng và có giá trị bất chấp sự thay đổi liên tục.


Dưới đây là 10 câu nói ấn tượng với các nhà đầu tư tài chính nhiều thập kỷ qua.
1. “Hiểu được hai từ ‘giá trị’ đồng nghĩa với việc hiểu được ý nghĩa của thị trường” – Charles Dow





Năm 1896, nhà báo Charles Dow đã phát minh ra Chỉ số Trung bình Công nghiệp Dow Jones. Những quan điểm của ông về cổ phiếu luôn thu hút sự quan tâm của nhiều người. Charles Dow là nhà đồng sáng lập của Dow Jones and Company. Ông cũng là nhà sáng lập the Wall Street Journal – một trong những tờ báo được đánh giá cao nhất trên thị trường tài chính thế giới. Dow đã phát triển hàng loạt những nguyên lý giúp tìm hiểu và phân tích thị trường tài chính ví dụ như Lý thuyết Dow.
2. "Đôi khi, ngay cả những nhà đầu tư thông minh cũng cần có ý chí mạnh mẽ để tránh đi theo đám đông." – Benjamin Graham


Benjamin Graham là cha đẻ của công cụ "Mr Market” (để ngầm chỉ một sự thật rằng giá cả chứng khoán có sự dao động rất lớn, và chính điều này sẽ mang lại cho những nhà đầu tư khôn ngoan cơ hội để mua khi giá giảm và bán khi giá tăng) – đồng thời cũng là nhà quản lý đầu tư và nhà giảng dạy về tài chính xuất sắc. Ông viết 2 quyển sách kinh điển về đầu tư (“Phân tích đầu tư chứng khoán” và “Nhà đầu tư thông mình”) mà không có tác phẩm nào so sánh được về tầm quan trọng. Ông được toàn thế giới thừa nhận như là cha đẻ của hai phương pháp đầu tư cơ bản – phân tích cổ phiếu và đầu tư giá trị. Ông cũng nổi tiếng vì là thày và là người cố vấn dày dạn kinh nghiệm cho tỷ phú Warren Buffet cũng như nhiều nhà đầu tư nổi tiếng khác. Bản thân Warren Buffet cũng thừa nhận rằng trong ông có đến 85% Ben Graham.
3. "Thị trường đầu cơ sinh ra trong sự ảm đạm, lớn lên bằng sự hoài nghi, phát triển nhờ sự lạc quan và chết bởi sự thỏa mãn – Sir John Templeton


Là người tiên phong trong việc sử dụng quỹ tương hỗ đa dạng hóa toàn cầu, Sir Templeton là nhà đầu tư cổ phiếu người Anh gốc Mỹ, đồng thời cũng là một nhà từ thiện. Tạp chí Money từng mệnh danh Templeton “là người lựa chọn cổ phiếu toàn cầu tài ba nhất trong lịch sử”.


Templeton lựa chọn quan điểm tránh xa phố Wall bằng cách đầu tư chủ yếu vào thị trường Anh và Nhật Bản. Chính điều này đã giúp ông trở thành một tỷ phú giàu có và đi đầu xu hướng đầu tư toàn cầu. Hiện Templeton làm việc toàn thời gian trong vai trò của một nhà từ thiện, mỗi năm ông tặng khoảng 40 triệu đôla cho các quỹ từ thiện song ông vẫn hết sức tận tụy với năng khiếu thiên bẩm của mình “nghiên cứu về đầu tư chứng khoán”. Cũng nhờ có các nghiên cứu chuyên sâu về thị trường, việc hoạch định tính toán thời gian của Templeton luôn hoàn hảo đến mức tuyệt đối. Ngay từ giai đoạn đầu tiên của thời kỳ cổ phiếu ngành công nghệ và Internet bùng nổ những năm 1990, Templeton đã có được vị trí đáng kể trên thị trường cổ phiếu của lĩnh vực này và kiếm về cho mình cả một gia tài.
4. “Trừ khi nợ quốc gia là quá lớn, nhìn chung nó không phải là vấn đề đáng ngại” – Alexander Hamilton



Alexander Hamilton xuất hiện trên tờ bạc 10 USD
Hamilton là Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của nước Mỹ và quan điểm của ông có ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ của Mỹ cả trong quá khứ lẫn trong hiện tại. Hamilton cũng chính là người đề xuất thành lập Ngân hàng Trung ương đầu tiên của Mỹ khi Mỹ đang rơi vào cuộc khủng hoảng nợ nghiêm trọng với lập luận rằng nếu không thành lập ngân hàng trung ương để nhận sự đầu tư của nước ngoài đổ vào thì Chính phủ sẽ sụp đổ rất nhanh. Đề xuất này đã trải qua quá trình hiện thực hoá không được suôn sẻ khi bị rất nhiều chính khách phản đối, nhưng cuối cùng cũng được thông qua bởi Tổng thống Washington và mô hình của nó chính là tiền thân của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) ngày nay.
5. “Mua cổ phiếu mà không hiểu biết về công ty cũng giống như đọc chữ mà không hiểu gì" – Peter Lynch


Peter Lynch là anh hùng của giới đầu tư chứng khoán với quỹ đầu tư Fidelity trong suốt nửa sau thế kỷ 20. Ông cũng là một huyền thoại phố Wall với nhiều cuốn sách phân tích sắc sảo. Rất nhiều nhà đầu tư coi Peter là bậc thầy tài ba và là tấm gương đầu tư để họ noi theo. Họ luôn nghiên cứu sát sao những tác phẩm của ông như “chiến thắng trên phố Wall” hay “Học cách làm giàu” v.v… Đây được xem là bảo bối cho những chiến lược đầu tư quan trọng của nhiều người, trong đó Peter đã tổng kết 3 nguyên tắc cơ bản nhất đó là: Chỉ mua những cổ phiếu quen thuộc, tự mình nghiên cứu và đầu tư dài hạn.
6. “Trong kinh doanh, đúng hay sai không quan trọng, cái quan trọng là nếu đúng sẽ có được bao nhiêu tiền, và nếu sai sẽ mất bao nhiêu tiền” – George Soros


Cái tên George Soros đã trở nên hết sức quen thuộc với phố Wall cũng như với toàn thế giới. Người ta biết đến ông như một nhà tỷ phú thành công nhất trong lĩnh vực đầu tư tư bản. Tỷ phủ người gốc Hungary này là chủ tịch của Quỹ đầu tư Soros và là một trong những nhà đầu cơ lỗi lạc nhất trong lịch sử thị trường tài chính thế giới. Năm 2004, George Soros đứng thứ 24 trong danh sách những người giàu nhất thế giới với giá trị tài sản 7,2 tỷ USD. Đứng thứ 24 thế giới nhưng nhà tỷ phú gốc Do Thái này nổi tiếng là nhân vật số một trong giới tài chính. Người ta tin rằng ông có thể một tay che cả bầu trời, làm mất giá bất kỳ đồng tiền mạnh nào trên thế giới hay gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế bởi những cư dân của phố Wall và thị trường tài chính London luôn dõi theo và sẵn sàng dập khuôn theo ông.


Theo các nhà phân tích, George Soros là nhà đầu cơ ngắn hạn, hoạt động kinh doanh của ông mang tính trục lợi rất cao, đầu tư những khoản tiền lớn nhưng mang nhiều tính đánh bạc trên cơ sở những biến động của thị trường tài chính toàn cầu. Do đó, sau sự kiện này, nhất cử nhất động của George Soros đều thu hút sự chú ý đặc biệt của các quan chức Chính phủ và ngân hàng trung ương của tất cả các nước.
7. “Tôi sẽ chỉ cho bạn cách làm giàu. Hãy sợ hãi khi người khác tham lam và hãy tham lam khi người khác sợ hãi” – Warren Buffett


Warren Buffett là một nhà đầu tư, doanh nhân và nhà từ thiện lỗi lạc người Mỹ. Ông được coi là một trong những nhà đầu tư thành công nhất thế giới, cổ đông lớn nhất kiêm Giám đốc điều hành hãng Berkshire Hathaway. Ông được gọi là "Huyền thoại đến từ Omaha" hay "Hiền tài xứ Omaha".


Ông rất nổi tiếng do sự kiên định trong triết lý đầu tư theo giá trị cũng như lối sống tiết kiệm dù sở hữu khối tài sản khổng lồ. Warren Buffet từng được coi là “thầy phù thuỷ” trên thị trường chứng khoán, mỗi động thái của ông luôn được dõi theo hàng ngày bởi hàng nghìn nhà đầu tư trên thế giới.
8. “Đầu tư vào tri thức sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất” – Benjamin Franklin


Benjamin Franklin là một trong những người thành lập nước Mỹ. Ông là một chính trị gia, một nhà khoa học, một tác giả, một thợ in, một triết gia, một nhà phát minh, nhà hoạt động xã hội, một nhà ngoại giao hàng đầu.
9. “Điều quan trọng không phải là bạn kiếm đựơc bao nhiêu tiền mà là giữ được bao nhiêu tiền và số tiền đó đã sinh sôi nảy nở như thế nào, và bạn giữ được số tiền kiếm được cho bao nhiêu thế hệ” - Robert Kiyosaki


Robert Kiyosaki là một nhà đầu tư, doanh nhân đồng thời là một tác giả. Kiyosaki nổi tiếng bởi cuốn sách "Rich Dad, Poor Dad" (Cha Giàu, Cha Nghèo), từng được xếp vào số 10 cuốn sách bán chạy nhất trên cả The Wall Street JournalUSA Today và New York Times. Trong cuốn "Rich Kid Smart Kid" của mình, với mục đích giúp cha mẹ dạy con cái quan niệm về tài chính của họ, ông đã sáng chế ra trò chơi "Cashflow" dành cho người lớn và trẻ em. Ông cũng tham gia các bài phát biểu trên khắp thế giới, đồng thời viết một chuyên mục hàng tuần trên trang Yahoo Tài chính.
10. "Trong chớp mắt thị trường có thể cướp đi mọi thứ của bạn" – Jim Cramer


Jim Cramer là chuyên gia đầu tư chứng khoán, nhà quản lý quỹ, và cũng là người dẫn chương trình "Mad Money" trên đài truyền hình CNBC. Ông cũng là nhà đồng sáng lập của trang web tài chính nổi tiếng TheStreet. 31 năm trong nghề, người dẫn chương trình "Mad Money" thường đưa ra khuyến nghị thành công mua vào, chứ không phải bán ra khi thị trường đang trong những thời điểm đầy rủi ro như thời điểm thị trường chạm đáy năm 1987 hay thị trường tụt dốc chớp nhoáng sau vụ tấn công kinh hoàng 11/9 tại Mỹ.





Theo Tuyến Nguyễn
Vnexpress

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Dự báo diễn biến cặp EUR/USD ngày 09/06/2011

Euro có thể giảm trong ngày hôm nay.




Đồng euro đang thể hiện xu hướng tích lũy khi thị trường chờ đợi quyết định công bố lãi suất của NHTW Châu Âu (ECB) vào lúc 06:45pm (theo giờ Việt Nam). Dự đoán của giới phân tích cho rằng ECB sẽ giữ nguyên lãi suất, vì vậy thị trường sẽ dõi theo những phát biểu của chủ tịch ECB sẽ diễn ra sau khi lãi suất đã được công bố khoảng 30 phút. Mọi dự đoán đều cho rằng ECB sẽ có thể nâng lãi suất vào tháng sau mặc dù đồng euro đang gặp phải sự thử thách rất lớn từ yếu tố vỡ nợ của Hy Lạp, Tây Ban Nha, Italia.


Diễn biến kỹ thuật cho thấy chiều hướng điều chỉnh cặp EUR/USD phiên giao dịch hôm qua hình thành các tín hiệu kỹ thuật cho thấy đồng euro có khả năng giảm điểm và có thể giảm mạnh một khi phá vỡ mô hình inside bar trên chart daily, xu hướng này được khẳng định sẽ củng cố cho khả năng giảm theo mô hình bearish bat trên khung thời gian H4, cũng như mức kháng cự 1.4630 là mức dao động trung bình tương ứng với fibo retracement 50.0 cho khả năng cặp EUR/USD sẽ diễn biến theo mô hình ABCD giảm trong phiên giao dịch ngày hôm nay.


Dưới đây là các tín hiệu cụ thể minh họa cho các khả năng có thể xảy ra với đồng euro hôm nay:


Chart daily





Chart H1





goldandforex168

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2011

Chứng khoán: Trường phái kiên nhẫn mai phục đã thành công

Ngày 7/6/2011, sau hai phiên “nắn gân” nhà đầu tư và cũng đồng thời để gom hàng, nhóm tạo lập thị trường (MM) tiếp tục đánh thị trường lên.



Những nhà đầu tư thuộc trường phái kiên nhẫn mai phục đã thành công.


Tâm lý nhà đầu tư đã gần như đổi thay đổi 180 độ. Nếu cách đây không lâu họ lâm vào tình trạng tuyệt vọng và kêu gào bằng đủ các tán thán từ gây ấn tượng, thì nay đã có những người dám bạo gan khẳng định thị trường đã lập đáy dài hạn. Hai tâm trạng như thế chỉ cách nhau có ít ngày!




Những nhà đầu tư thuộc trường phái kiên nhẫn mai phục đã thành công. Không biết họ chủ trương bắt đáy từ lúc nào và có bao nhiêu phần trăm trong số họ bắt sát đáy 69 điểm của HNX, nhưng phần lớn chỉ quan tâm đến việc mặt bằng giá cổ phiếu đã quá rẻ và đây là "cơ hội mười năm có một", do đó phương án bền vững nhất vẫn là mua dần và mua trung bình giá. Nổi lên trên tất cả, những người này đang có tiếng nói lấn át trên các diễn đàn chứng khoán, cho dù rất có thể vài tháng tới đây họ sẽ nằm trong số người bi quan.


"Có ai giúp tôi bỏ chứng khoán với?" - một nhà đầu tư đã kêu than trước sự cám dỗ trong những phiên tăng xanh thẳm của thị trường. Chính nhà đầu tư này đã thề sẽ không mua vào nữa cho dù thị trường tăng vì nỗi lo sợ bẫy tăng giá, nhưng chứng khoán đúng là chứng khoán, chỉ cần có lực đẩy lên của tổ chức là y như rằng, lần nào cũng như lần nào, vẫn có những nhà đầu tư lao theo mua đuổi, bất chấp những dấu hiệu hoàn toàn chưa rõ ràng về khả năng phục hồi của thị trường.


Còn những nhà đầu tư đã phải cắn răng cắt lỗ và đã quá sợ hãi nhóm MM thì luôn lên tiếng cảnh báo, một sự cảnh báo đầy ý thức trách nhiệm về nguy hiểm của thị trường và những mất mát còn lớn hơn nữa có thể diễn ra về tài chính và cả những hậu quả xã hội. Có nhà đầu tư còn tâm nguyện rằng thà anh ta chịu mất hết nhưng cứ để cho thị trường chứng khoán (TTCK) đóng cửa luôn cũng vui lòng, chứ không cam tâm nhìn bà con đồng nghiệp lâm, vào cảnh tan nát nhà cửa.


Rốt cuộc, khi nhìn vào đồ thị thị trường với đỉnh sau cứ tiếp tục cao hơn đỉnh trước, chẳng mấy ai kềm lòng được. Mặc cho các công ty chứng khoán luôn bày tỏ thái độ thận trọng và hết lời khuyên nhủ, tiền đầu tư nhỏ lẻ vẫn chảy vào thị trường như suối như sông. Những nhà đầu tư thận trọng nhất cũng đã bắt đầu muốn thử. Thì cứ thử một chút xem nào, ai mà biết được.


Vào những ngày cuối tháng 2/2009, thị trường cũng đâu có khá bây giờ là mấy, cũng đỏ lửa, cũng đầy tiếng than oán, kêu cứu... Rồi bỗng chốc thị trường khựng lại, không lao dốc nữa. Khi đó người ta vẫn chưa thể biết được là nó còn tiếp tục đổ dốc hay không. Chỉ biết rằng nó cũng làm thành một đường đi ngang với đáy sau cao hơn đáy trước. Vài tuần sau, người ta bất ngờ khi thấy thị trường bật lên mạnh mẽ. Đến lúc đó thì không ai bảo ai, tất cả đều hô hào cho con sóng tăng trưởng của thị trường, hô hào lấy lại những gì đã mất.


Giờ đây cũng vậy, những gì đã mất sẽ có cơ hội để lấy lại phần nào. Mà biết đâu đấy, nếu là đáy dài hạn rồi thì có khi còn lấy lại hết, có khi còn lời lãi nữa là đằng khác.


Chỉ tội nghiệp bộ phận phân tích kỹ thuật của các công ty chứng khoán. Thời buổi này mà còn đi phân tích cái chỉ số méo mó VNI để làm gì? Nhà đầu tư nào còn quan tâm đến điều đó, mà thay vào đó, họ nhìn thấy tương lai tươi sáng hơn của tháng Sáu này, một miền đất hứa đang được hứa hẹn sẽ giảm đà tăng phi mã của lạm phát, sẽ giảm dần lãi suất huy động và lãi suất tiết kiệm, sẽ được Chính phủ quan tâm bằng những biện pháp "cứu chứng khoán" mà các ngành tài chính, ngân hàng đang soạn thảo.


Vì thế, thời buổi của nhận định lạc quan về thị trường dường như đang trở lại. Nếu muốn thu hút khách hàng và diễn đàn nhà đầu tư thì công ty chứng khoán liệu mà nói tốt cho thị trường. Tốt nhất là cứ tạm khẳng định thị trường đang ở vùng đáy. Cách nói này có ưu điểm ở chỗ vừa không làm nhụt chí, không làm mất lòng nhà đầu tư, khách hàng, cũng vừa không lệch pha nhiều so với quan điểm "giảm dài hạn" của họ cách đây không lâu.


Vùng đáy là một từ ngữ có tính rất chi là trừu tượng. Nói là vùng đáy nhưng có nhiều loại khác nhau. Thị trường chỉ giảm thêm, một chút nữa thôi cũng được coi là đã đến vùng đáy. Thị trường đi ngang càng đương nhiên được xem là vùng đáy. Còn thị trường răng cưa đi lên thì khỏi phải nói. Chỉ sợ nhất là thị trường lao dốc, vì khi đó vùng đáy hay đường đáy sẽ không còn ý nghĩa gì nữa, tất cả những nhận định phân tích kỹ thuật gì gì đó sẽ bị nhà đầu tư quay lưng lại hết.


Lại nhớ về năm 2007 sôi trào cảm xúc. Bill Boner - phóng viên của tờ The Dayly Reckoning Australia, trong một lần đến Hà Nội đã viết: "Những nhà đầu tư non nớt của Việt Nam có thể chẳng có chút kiến thức nào. Các nhà đầu tư của Việt Nam không hề có khái niệm đối với hai từ "bong bóng' (bubble) và "đổ vỡ" (crash). Nhưng tôi cá rằng, khi ngày càng có nhiều người Việt giàu lên vì chứng khoán thì tiếng Việt cũng sẽ được "làm giàu" với hai từ này".


Hình như Bill có chỗ sai trong nhận xét của mình: hiển nhiên là kiến thức nhà đầu tư Việt bây giờ hơn hẳn năm 2007 chứ. Những nhà đầu tư đã tự an ủi nhau là họ không còn ngốc nghếch đến độ để cho lũ cá mập ăn thịt. Thế nhưng rõ ràng là Bill Boner lại đã đúng: từ năm 2010 các nhà đầu tư và giới chuyên gia phân tích chứng khoán của chúng ta đã nằm lòng từ "bong bóng", còn sang năm 2011 thì từ "đổ vỡ" ngày càng được nhắc đến nhiều hơn.


Có người lại quan niệm cứ khi nào hai từ ngữ trên xuất hiện với tần suất dày đặc thì khi đó thị trường hẳn đã lập đáy. Cứ sau những phiên tăng điểm ấn tượng của thị trường trong thời gian gần đây, lại có công ty chứng khoán khuyên nhà đầu tư bắt đầu có thể đầu tư dài hạn. Nhưng cũng chính công ty này trước đó đã thật bi quan khi cho rằng thị trường vẫn còn đang nằm trong kênh giảm dài hạn. Vậy là thế nào? Nhà đầu tư phải làm gì đây? Chẳng lẽ cứ cắm cổ đầu tư dài hạn trong một thị trường giảm dài hạn ư?


Nhưng mà thôi, tạm gác lại cái chuyện nhức đầu ấy. Thị trường đang tăng tốt, vậy đáy nào thì cũng là đáy. Lướt sóng!


DIỄN ĐÀN KINH TẾ VIỆT NAM

 
Design by Wordpress Theme | Bloggerized by Free Blogger Templates | coupon codes