Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2010

TUẦN 7+8: KINH TẾ BẤT ỔN KHIẾN VÀNG KHÓ GIẢM SÂU

Nhận định xu hướng giá vàng từ ngày 15/02/2010 đến ngày 27/02/2010


Những ngày này hòa cùng không khí Tết cổ truyền của dân tộc nên bài viết không được cập nhật liên tục. Mong bạn đọc gần xa thông cảm.


Tuần lễ thứ 6 là tuần tăng nhẹ của vàng sau 3 tuần liên tiếp giảm điểm mạnh.


Tuần lễ thứ 7 chứng kiến giá vàng tiếp diễn đà tăng trước đó với mức tăng 37 điểm (tương đương mức tăng 1%) do những bất ổn đến từ Mỹ và Châu Âu.



Những thông tin quan trọng trong tuần lễ thứ 7 (15/02-19/02/2010)


• Fed bất ngờ nâng lãi suất chiết khấu từ mức hiện tại 0.25% lên 0.75%


• Con số trợ cấp thất nghiệp tuần gây thất vọng lớn cho thị trường.


• Chỉ số đầu tư dài hạn công bố con số tốt hơn dự đoán do những lo ngại trong khu vực đồng tiền chung Châu Âu.


Như vậy đồng usd đã tăng đến tuần thứ 5 liên tiếp trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đối mặt với nguy cơ tái suy thoái mà bắt nguồn từ những rủi ro ngày càng lớn trong vấn đề chi tiêu của chính phủ các quốc gia của các nền kinh tế lớn.


Vì vậy đồng usd được giới đầu tư tìm đến trong vai trò là đồng tiền có lãi suất thấp và an toàn. Đồng Yên cũng được hưởng lợi trong trường hợp này.


Sau hành động tăng lãi suất cơ bản của RBA (Úc) là quốc gia đầu tiên nâng lãi suất sau hậu khủng hoảng bắt nguồn từ sự ổn định của thị trường việc làm. Giờ đến lượt Mỹ cũng đã có động thái nâng lãi suất nhưng không phải lãi suất cơ bản mà là lãi suất chiết khấu dành cho hệ thống ngân hàng.


Đây có thể được xem là việc thực hiện của chính phủ Mỹ trong quá trình giám sát chặt chẽ hoạt động của ngành ngân hàng Mỹ, được đánh giá là nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ cuộc khủng hoảng lịch sử năm 1930.


Tôi cho rằng việc nâng lãi suất chiết khấu không hoàn toàn song hành với việc nâng lãi suất cơ bản trong cuộc họp vào tháng 9 của Fed như các chuyên gia nhận định. Bởi với hành động này của Fed, chính phủ của tổng thống Obama có thể tiết kiệm một khoản tiền không hề nhỏ trong nỗ lực chung chống sự gia tăng của thâm hụt thương mại, đồng thời có thể rút ngắn thời gian đề rút dần các kế hoạch kích thích kinh tế nhằm đưa thị trường trở lại sự phục hồi. Nếu làm khéo thì có thể tránh được lạm phát khi kinh tế hoàn toàn hồi phục.


Đó là nói về Mỹ.


Còn đối với những nền kinh tế lớn khác thì xem ra tình hình có vẻ bi đát hơn nhiều.


Đầu tiên phải kể đến là Anh. Giá trị của đồng Bảng đang trên đà trượt giảm mạnh chưa cho thấy dấu hiệu phục hồi. Việc các thành viên trong BOE nhất trí giữ nguyên mức lãi suất hiện tại với việc các chỉ số kinh tế quan trọng công bố trong tuần đang làm người ta lo ngại về khả năng Anh có nguy cơ rơi vào tình trạng giảm phát (kinh tế tăng trưởng âm).
Kế đến là các nước trong cộng đồng liên minh Châu Âu. Cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp đã lan sang các nước láng giềng như Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý,…Thêm vào đó những nhận xét không mấy sáng sủa về tình hình kinh tế trong khối của chủ tịch ECB cũng góp phần đẩy đồng euro sụt giảm trong gần 2 tháng qua và hiện tại cũng chưa thấy tín hiệu quay đầu của đồng tiền này.


Tất cả những yếu tố trên tô điểm cho đà tăng điểm ấn tượng của đồng bạc xanh trong tuần qua.


Còn đối với vàng, những động thái trong việc tăng lãi suất chiết khấu của Fed và những dấu hiệu tiêu cực của khu vực đồng tiền chung Châu Âu đã làm cho giá vàng nhảy loạn xạ theo mô hình zigzag trước khi trở lại mức dao động bình thường vào ngày cuối tuần.


Điều này cho thấy sự bất ổn của kinh tế thế giới có tác động rất rõ ràng đến sự dịch chuyển của vàng, đồng thời cũng đảo lộn các tín hiệu trên biểu đồ kỹ thuật.


Những ngày cuối tuần qua được ví như thị trường đang chơi trò ú tim trước những thông tin gây hưng phấn và thất vọng với ưu thế nghiêng về tâm lý bất ổn của nhà đầu tư.


Tuần cuối cùng của tháng 02/2010 như thường lệ tập trung vào thị trường nhà đất, dịch vụ,…Ngoài ra còn có buổi tường trình của chủ tịch Fed về hành động nâng lãi suất trong tuần qua.


Tôi cho rằng thông tin quan tâm tuần tới là chỉ số tiêu dùng cơ bản và con số thất nghiệp trong tuần. Đây là chìa khóa cho việc điều chỉnh chính sách tiền tệ trong tương lai của bất kỳ chính phủ nào.


Trên phương diện kỹ thuật, cứ ngỡ việc xuyên thủng mức 1.070usd/oz thì vàng sẽ bước vào giai đoạn điều chỉnh giảm sau đợt tăng mạnh. Nhưng với những thông tin kinh tế công bố vẫn cho thấy vàng vẫn là kênh trú ẩn an toàn trong tâm lý bất ổn bao trùm thị trường.


Hiện tại trên các khung thời gian ngắn và trung hạn, đang có dấu hiệu hình thành mức tăng lên vùng 1.145usd/oz và có thể cao hơn nữa.


Khung thời gian theo ngày quan sát tôi thấy vàng đã breakout mô hình falling wedge. Ngoài ra nhìn theo hướng hình tượng hóa tôi thấy hình ảnh của một cô gái 2 tay đang dâng mâm ngũ quả. Nếu đo sải tay của cô gái theo hướng đưa lên thì vàng có thể phá vỡ mức kỷ lục đã lập nên trong năm 2009.


Phương pháp giao dịch tuần tới là mua lên mục tiêu 1.145. Hướng chính tôi cho rằng sẽ là xu hướng tăng (gợi ý giao dịch thử nghiệm).


Biên độ dao động tuần tới dự kiến trong khoảng 1.110 – 1.1140


Giao dịch trong biên độ mở rộng 1.100-1.145.


Nhận định bổ sung: khảo sát của hãng tin Bloomberg cho thấy vàng có thể giảm trong tuần tới; chứng khoán Mỹ xuất hiện tín hiệu điều chỉnh sau 2 tuần tăng liên tiếp.


NQT-william henry




Thứ Bảy, 13 tháng 2, 2010

TUẦN THỨ 6: KHI HAI LUỒNG TƯ TƯỞNG SONG HÀNH

Nhận định xu hướng giá vàng từ ngày 08/02/2010 đến ngày 12/02/2010


Đính chính: trong bài viết “Tuần thứ 5: PTCB+PTKT=Vàng giảm” trong phần viết giao dịch trong biên độ mở rộng 1.117-1.070, xin nói lại như sau: giao dịch trong biên độ mở rộng 1.125-.1070 theo thuộc tính retest của giá. Xin cáo lỗi cùng bạn đọc.


Tuần qua giá vàng đã có mức giảm mạnh hơn 80 điểm và cũng đã phá vỡ kênh tăng giá được thiết lập từ mức thấp nhất trong tháng 10/2008.



Điểm lại các thông tin kinh tế tuần qua cho thấy việc giá vàng giảm mạnh được cho là xuất phát từ các tín hiệu lạc quan thể hiện trên các chỉ số kinh tế quan trọng trong lĩnh vực sản xuất, bất động sản và việc làm của Mỹ.


Thêm vào đó, việc giữ nguyên lãi suất của RBA, ECB, BOE và sự sụt giảm mạnh trong lĩnh vực bán lẻ của Úc (-0.7 so với dự đoán 0.3 của các chuyên gia) cùng với tâm lý lo lắng về khủng hoảng nợ công của Hy Lạp lây lan trong cộng đồng các nước sử dụng đồng euro đã gián tiếp đẩy chỉ số usd index lên mức cao mới kể từ khi đạt mức thấp kỷ lục trong tháng 11/2009.


Cuộc họp của các nền kinh tế phát triển (G20) đã cho thấy về khả năng các chính phủ đang cân nhắc việc rút bớt các gói kích thích kinh tế do nhận thấy niềm tin tiêu dùng đã có sự cải thiện đáng kể và quan trọng hơn của kế hoạch này là để tránh cho kinh tế thế giới rơi vào một cuộc khủng hoảng khác nghiêm trọng hơn cuộc khủng hoảng xảy ra trong năm 2009 - khủng hoảng nợ công.


Tâm lý nhà đầu tư lúc này đang đi theo 2 khuynh hướng. Điều này thể hiện rất rõ trên chỉ số usd index và hàng hóa, trong đó có vàng.


Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới diễn ra theo các qui luật kinh tế, đồng usd thường tăng khi nhận được tin tốt hỗ trợ và ngược lại. Vàng cũng như các loại hàng hóa khác sẽ di chuyển theo hướng ngược lại với sự dịch chuyển của đồng usd. Vì vậy việc phân tích sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu chúng ta nắm bắt được các thông tin quan trọng ảnh hưởng đến xu hướng giá.


Nhưng trong thời điểm nhạy cảm này, tâm lý nhà đầu tư dao động khó lường và trái với các qui luật thông thường đó. Vì vậy nắm bắt được tâm lý của nhà đầu tư và suy nghĩ theo cách nghĩ của họ quả thật không dễ chút nào trong việc phân tích xu hướng giá.


Cụ thể là một khi các chỉ số quan trọng hàng đầu của Mỹ công bố trái với kỳ vọng của thị trường, khi đó chúng ta sẽ chứng kiến cảnh tượng hỗn loạn diễn ra trên biểu đồ giá (tăng hoặc giảm với một biên độ cực lớn).


Ngay cả lúc này cũng vậy, nhà đầu tư vẫn đang phản ứng với các thông tin công bố theo 2 chiều hướng khác nhau. Lời khuyên cho nhà đầu tư nên cẩn trọng với bẫy giăng ra trong thị trường (bull trap).


Trên góc độ kỹ thuật, vàng giảm mạnh khi phá vỡ đường cổ mô hình giá vai - đầu – vai, cũng là đường hõ trợ của kênh xu hướng tăng như đã nói trong phần đầu bài viết.


Với những thông tin kinh tế trong tuần tới như thâm hụt thương mại, doanh số bán lẻ của Mỹ kết hợp với các tín hiệu kỹ thuật, vàng có thể phục hồi nhẹ kiểm tra mức kháng cự 1.097usd/oz.


Đề xuất phương pháp giao dịch tuần tới vẫn là mua trước – bán sau.


Giao dịch trong biên độ mở rộng 1.097-1.060usd/oz. Hướng chính là tăng nhẹ lên mức kháng cự.


NQT-william henry


Thứ Tư, 10 tháng 2, 2010

Mỹ - Trung tiến gần hơn tới chiến tranh tiền tệ

Các nhà lập pháp Mỹ hôm nay trình một dự thảo trừng phạt Trung Quốc nhằm giải quyết hành động thao túng tiền tệ trái pháp luật của Trung Quốc.


Các nhà lập pháp Mỹ đã đưa ra một dự thảo luật trừng phạt Trung Quốc, một phản ứng mạnh mẽ sau khi Trung Quốc bất ngờ tăng lãi suất. Các nhà lập pháp Mỹ cáo buộc Trung Quốc đã thao túng đồng USD.



Các thượng nghị sĩ của cả đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ đã đề xuất với Bộ trưởng Tài chính Mỹ Timothy Geithner về dự thảo luật này từ 1 tháng trước. Quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington đang rất căng thẳng xung quanh các vấn đề về tiền tệ và thương mại. Washington cáo buộc Bắc Kinh thao túng nhân dân tệ để giúp đẩy mạnh xuất khẩu.


Không giống như mong đợi của Mỹ, để ngăn chặn lạm phát leo thang và hạ nhiệt nền kinh tế đang quá nóng, Trung Quốc đã không nâng giá Nhân dân tệ mà bất ngờ tăng lãi suất lần thứ 2 trong vòng 6 tuần. 


Động thái này đã khiến Mỹ ngạc nhiên xen lẫn thất vọng và cho rằng cuộc gặp gỡ giữa 2 nhà lãnh đạo của 2 quốc gia lớn nhất thế giới trong tháng trước đã không giải quyết được mâu thuẫn tiền tệ. 


Dự báo những căng thẳng trong vấn đề tiền tệ và thương mại sẽ còn tiếp tục và leo cao hơn nữa. Hai quốc gia hàng đầu thế giới đang tiến gần tới cuộc chiến tranh tiền tệ, sẽ gây nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ tới thị trường tiền tệ thế giới.


DVT.vn
















Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010

TUẦN THỨ NĂM: PTCB+PTKT=VÀNG GIẢM?

Nhận định xu hướng giá vàng từ ngày 01/02/2010 đến ngày 06/02/2010


Tuần qua chúng ta đã chứng kiến vàng giảm điểm trước sự tăng điểm của đồng usd.


• Những sự kiện kinh tế nổi bật tuần lễ từ ngày 25/01-29/01/2010
• Bài phát biểu Thông điệp liên bang diễn ra ngày 27/01/2010
• Cuộc bầu cử chức danh chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ diễn ra ngày 28/01/2010
• Phát biểu của Ủy ban Thị trường mở liên bang về tình hình kinh tế Mỹ.


• Niềm tin tiêu dùng của người dân Mỹ tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 09/2008



Diễn biến giá vàng tuần qua


Giá vàng ngày đầu tuần đã tăng lên vùng 1.104usd/oz từ mức giá đóng cửa 1.094usd/oz ngày cuối tuần trước đó. Sau đó giá tiếp tục tăng trong ngày thứ 2 nhưng khộng thể xuyên thủng vùng giá 1.104 và đã giảm trở lại về vùng giá 1.094 đồng thời hình thành mô hình giá giảm đẩy giá giảm về vùng 1.085usd/oz. Nỗ lực kiểm tra lại mức kháng cự 1.104 không thành đã hình thành sóng giảm cho vàng khi liên tiếp tạo các đỉnh mới thấp hơn.


Kết thúc tuần giao dịch trong biên độ 1.104-1.074 giá vàng đóng cửa tại mức 1.081usd/oz, mức thấp nhất tính từ ngày bắt đầu giao dịch của năm mới 2010.


Không chỉ có vàng giảm trong tuần qua, các đồng tiền được xem là đối trọng nặng ký với đồng usd trong rổ tiền tệ là đồng euro, bảng Anh, đô la Úc cũng trượt giá trước sức tăng mạnh mẽ của đồng bạc xanh.


Điều gì đã làm cho đồng usd có được mức tăng ấn tượng như vậy?


Câu trả lời chính là những tuyên bố và hành động của tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Barack Obama.


Với phương châm “thay đổi và hy vọng” trong suốt quá trình vận động tranh cử và trên cương vị tổng thống, Barack Obama và chính quyền đương nhiệm đã từng bước nỗ lực lèo lái đưa nước Mỹ trở lại sự phục hồi sau hậu khủng hoảng.


Mục tiêu trọng tâm của vị tổng thống này trong tiến trình vực dậy nền kinh tế lớn nhất thế giới thể hiện rất rõ qua việc kềm hãm tình trạng thất nghiệp, hạn chế sự thao túng của các định chế tài chính lớn, đem lại những dịch vụ hoàn hảo cho người dân đặc biệt là việc cải tổ dịch vụ y tế công.


Bài phát biểu thông điệp liên bang của tổng thống Barack Obama sau hơn 1 năm cầm quyền không nằm ngoài dự đoán của các chuyên gia kinh tế khi một lần nữa nhấn mạnh sự quan tâm hàng đầu hiện nay là cải thiện thị trường việc làm, đánh thuế và thu hồi nhSự kiện tiếp theo là ông Ben Bernanke tiếp tục được tín nhiệm trên cương vị chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thêm một nhiệm kỳ nữa cho thấy sự kỳ vọng của người dân Mỹ vào khả năng điều hành nền kinh tế của chính phủ đương nhiệm đang đi đúng với lộ trình phục hồi kinh tế.


Cần lưu ý rằng ông Ben Bernanke là người có khuynh hướng ủng hộ quan điểm duy trì chính sách đồng tiền mạnh (trường phái Hawkish). Vì vậy với những tín hiệu lạc quan của các lĩnh vực trọng yếu hàng đầu của Mỹ, nhiều khả năng Fed sẽ đề cập đến vấn đề lãi suất trong cuộc họp vào tháng tư tới đây.


Đồng usd cũng đã dần thể hiện sự gia tăng mạnh mẽ trong 2 tháng cuối năm 2009 trước những thông tin tích cực về những lĩnh vực quan trọng đã có sự tăng trưởng dương trở lại như bất động sản, đầu tư dài hạn, đơn hàng lâu bền,…


Đặc biệt niềm tin tiêu dùng của Đại học Michigan công bố vào hôm thứ sáu đã cho thấy sự khởi sắc của các lĩnh vực liên quan đến dịch vụ và bán lẻ của Mỹ góp phần vào mức tăng ấn tượng của chỉ số Advance GDP quý 4/2009.


Thông tin kinh tế tuần đầu tiên của tháng 02/2010


Tuần tới thị trường sẽ đón nhận sự trở lại các chỉ số bom tấn là Bảng lương phi nông nghiệp (NFP) và các chỉ số sản xuất và dịch vụ. Dự đoán các chỉ số này sẽ cho các con số tốt đẹp.


Các thông tin kinh tế Châu Âu đáng chú ý là việc công bố lãi suất của Úc (RBA), trong năm 2009, RBA đã nâng tổng cộng 3 lần lãi suất khi tỷ lệ thất nghiệp của nước này duy trì ở mức không đổi 5.8% cộng hưởng với mức tăng trưởng ấn tượng của Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất hiện nay của Úc.


Nhận định đồng usd sẽ tiếp tục có phiên tăng điểm tuần thứ 3 liên tiếp trước những thông tin cơ bản và những tín hiệu tăng tiếp diễn trên góc độ phân tích kỹ thuật.


Phân tích kỹ thuật


Trên đồ thị kỹ thuật, vàng đã giảm tuần thứ 2 liên tiếp xuống mức thấp nhất của ngày 22/12/2009. Với mức giá đóng cửa vào ngày thứ 6 (28/01/2010), vùng kháng cự hiện nay của vàng được đánh giá mạnh sẽ là vùng giá 1.097usd/oz (hay gọi là vùng tâm lý hỗ trợ 1.100usd/oz).


Trên khung thời gian lớn theo tuần, vàng đã chạm đường hỗ trợ của kênh xu hướng tăng tại 1.075usd/oz. Chỉ báo kỹ thuật cho thấy áp lực giảm đang có dấu hiệu mạnh dần.


Còn đối với chỉ số usd index, dấu hiệu tăng được thể hiện qua mô hình giá AB=CD đang dần hoàn thiện.


Dưới đây là hình minh họa xu hướng giá vàng tuần tới


Gold
























Chỉ số usd index




























Quan sát đồ thị giá vàng tôi cho rằng vàng sẽ test đường hỗ trợ của kênh xu hướng tăng. Mức kháng cự tâm lý tại vùng giá 1.100usd/oz sẽ là điểm vào cho các lệnh bán xuống.


Phương pháp giao dịch tuần tới tiếp tục là mua trước bán sau.


Biên độ dao động trong tuần dự kiến 1.107-1.070.


Giao dịch trong biên độ mở rộng 1.117-1.070. Thủng một trong 2 mức giá trên vàng sẽ tiến đến các mức cao đạt được trong tháng 01/2010 hoặc giảm như đã đề cập trong bài viết trước. Hướng giảm được đánh giá cao.


Nhận định bổ sung: động thái của quỹ đầu tư vàng lớn nhất thế giới SPDR đã không có hành động mua bán nào trong 7 phiên đã qua. Khoảng thời gian cuối năm 2009 đến thời điểm hiện tại quỹ này có khuynh hướng bán ròng với tổng khối lượng trên 14 tấn vàng vật chất.


NQT-william henry

10 hiểu lầm về kinh tế Trung Quốc

Kinh tế Trung Quốc có thể vẫn tăng trưởng mạnh dù khủng hoảng kinh tế xảy ra. Nhưng có một điều còn gia tăng mạnh hơn, đó là những hiểu lầm về nền kinh tế Trung Quốc. Có thể là do những dữ liệu kinh tế không đáng tin cậy từ phía Trung Quốc, cũng có thể là sự hiểu lầm từ chính bản thân Mỹ và các nền kinh tế khác. Nhưng dù thế nào, ẩn sau những từ "thập kỷ Trung Quốc", "thế kỷ Trung Quốc" mà chúng ta nghe thấy hàng ngày, có một số điều vẫn đang bị hiểu sai về nền kinh tế lớn thứ ba thế giới này.



Thực tế là, Trung Quốc có thể chưa hẳn là nền kinh tế đầu tiên trên thế giới thoát khỏi khủng hoảng, không phải nguyên nhân bóp nghẹt tăng trưởng kinh tế Mỹ, và còn xa mới được gọi bằng cái tên quốc gia cắt giảm lượng khí thải nhà kính lớn nhất thế giới. 


Những ngày này, vị thế kinh tế của Mỹ cũng được nhìn nhận có mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế Trung Quốc hơn so với bình thường. Tuy nhiên, đây cũng là trường hợp mà các thử thách về chính sách, ví dụ như làm thế nào để Trung Quốc thực hiện cải cách kinh tế, càng dễ khiến các nhà hoạch định chính sách Mỹ trở nên nản lòng hơn. 


Sẽ rất khó khăn để Mỹ tránh được những "cạm bẫy" mở ra nếu như chỉ thay đổi chính sách một cách hời hợt, ví dụ như những chính sách về tỷ giá, cắt giảm khí thải nhà kính... để đuổi theo kinh tế Trung Quốc, đặc biệt là khi nền kinh tế lớn thứ ba thế giới này thực sự đang có những đóng góp đáng kể góp phần củng cố tăng trưởng kinh tế toàn cầu. 


Sai lầm 1: Trung Quốc hiện là đầu tàu cho tăng trưởng kinh tế thế giới. 


Sự thật là: Trung Quốc đã gộp một phần tăng trưởng của các quốc gia còn lại trên thế giới vào tăng trưởng của mình. Cách thức chuẩn mà các nhà lãnh đạo kinh tế Trung Quốc đang thực hiện nhằm xác định quốc gia nào đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu là lấy tất cả chỉ số tăng trưởng GDP của các quốc gia, gộp chung lại và kiểm tra xem quốc gia nào đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng GDP thế giới. Thế nhưng đây không hẳn là cách tính toán xác thực. 


Nếu một quốc gia thành công trong việc áp chế các điều kiện thương mại và trích ra được một phần lớn hơn nguồn lợi nhuận tài chính từ các mối quan hệ với các đối tác của mình, GDP của quốc gia đó sẽ tăng lên mạnh mẽ trong khi GDP của các đối tác thương mại kia giảm đi hoặc nếu có thể, chỉ tăng lên một cách rất chậm chạp. 


Chính vì thế, nó sẽ gây ra sự hiểu lầm rằng quốc gia này dẫn đầu tăng trưởng thế giới trong khi thực chất, nền kinh tế của nước đó đang tự làm giàu dựa trên mồ hôi nước mắt của những nền kinh tế còn lại trên thế giới. Bên cạnh đó, một yếu tố khác cũng góp phần gây ra những hiểu nhầm trong tính toán, đó là GDP bao gồm cả thương mại. Thặng dư thương mại được tính vào GDP trong khi thâm hụt thương mại thì bị trừ đi. Trung Quốc có mức thặng dư thương mại với hầu hết các nền kinh tế toàn cầu. Việc này đồng nghĩa với các nền kinh tế còn lại trên toàn thế giới phải chịu thâm hụt thương mại với Trung Quốc. Nếu hiểu theo cách này, Trung Quốc không hề đóng góp gì vào GDP thế giới cả, cho dù hoạt động kinh tế của quốc gia này thể hiện rằng Trung Quốc đang đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ. Kinh tế Trung Quốc quả thực đã đóng góp nhiều cho nền kinh tế toàn cầu. 


Trong vòng một thập kỷ qua, sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp Trung Quốc đã trở thành nhân tố lớn nhất tác động tới sự cạnh tranh toàn cầu. Về mặt chính sách, hàng hóa Trung Quốc góp phần duy trì giá cả tiêu dùng ở mức ổn định, qua đó góp phần kiểm soát nguy cơ lạm phát tại nhiều quốc gia. Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính đã làm thay đổi điều này. Nếu như trước đây, nguồn cung từ Trung Quốc giúp đáp ứng một phần nhu cầu thế giới thì nay, khi mà nhu cầu thế giới vẫn còn yếu ớt sau khủng hoảng, nó lại là một nhân tố gây ra nhiều tác động tiêu cực. 


Chỉ khi chính bản thân Trung Quốc phát triển kinh tế nội địa, tăng cường nhu cầu tiêu dùng hàng hóa từ các quốc gia còn lại trên thế giới thì khi đó, Trung Quốc mới thực sự trở thành đầu tàu cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu. 


Sai lầm 2: Trung Quốc có thể vượt qua Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trong 10 năm tới. 


Sự thật là: Có những lý do cho thấy kinh tế Trung Quốc sẽ không bao giờ vượt qua kinh tế Mỹ. Một trong những yếu tố mà dự đoán này dựa vào là các báo cáo tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong 30 năm qua và báo cáo tăng trưởng kinh tế Mỹ 3 năm gần đây. 


Nhưng yếu tố quan trọng hơn cả là nếu kinh tế Mỹ duy trì mức tăng trưởng như những năm 2007 - 2009 thì việc tính toán dựa trên GDP sẽ là một vấn đề khó khăn. Khi Mỹ tập trung vào việc củng cố chính sách như: cắt giảm thâm hụt ngân sách, ổn định lãi suất cho vay cơ bản, mở rộng thương mại, giảm thiểu sự điều chỉnh của chính phủ... 


Trung Quốc sẽ không bao giờ vượt qua được Mỹ, ít nhất là trong 10 tới 15 năm nữa. Trung Quốc những năm 1949 - 1978 khác xa với Trung Quốc những năm 1979 - 2009 và rõ ràng, Trung Quốc những năm 2010 - 1040 sẽ còn nhiều thay đổi khác biệt hơn nữa. Ít nhất là trong vấn đề dân số cũng như các vấn đề về ô nhiễm và các ngành công nghiệp nặng.


Vì thế, đây sẽ là một sai lầm cơ bản khi ghép 30 năm trước với 30 năm sau, đặc biệt là với một quốc gia đang trên đà phát triển mạnh như Trung Quốc. 


 Sai lầm 3: Trung Quốc sẽ vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong năm 2010.



Sự thật là: Kinh tế Trung Quốc có thể đã vượt qua Nhật Bản từ vài năm trước đây.


Tất cả những lời bàn luận về kinh tế Trung Quốc, trong đó bao gồm cả nhận định trên, đều có phần nhạt nhẽo. Không thiếu những báo cáo mà sản lượng hàng hóa đã được tiêu thụ lại bao gồm hàng triệu mặt hàng chưa được bán ra; hay con số đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lại bao gồm cả những khoản đầu tư trong nước. Số liệu GDP, FDI và một số chỉ số kinh tế khác của chính phủ không thống nhất với số liệu của địa phương, số liệu của địa phương cũng không thống nhất với con số mà các cấp chính quyền thấp hơn trong khu vực đã tổng hợp.


Bằng chứng cho các tuyên bố về kinh tế Trung Quốc có thể không thực sự đáng tin cậy, nhưng thực tế là, đã có một số minh chứng cho thấy kinh tế Trung Quốc có thể đã vượt qua Nhật Bản từ vài năm trước. Năm 2004, Trung Quốc đã chỉ đạo việc điều tra dân số toàn quốc và phát hiện ra rằng tăng trưởng kinh tế thực tăng lên tới 17% so với con số đã được tuyên bố trước đó, đặc biệt là sự mở rộng của mảng dịch vụ. Cuối năm 2009, Trung Quốc tuyên bố điều chỉnh GDP năm 2008 tăng lên 4,5% nhờ vào sự gia tăng tăng trưởng của lĩnh vực dịch vụ. Trung Quốc còn tỏ ý cho thấy, tăng trưởng GDP những tháng đầu năm 2009 có thể sẽ cũng được điều chỉnh tăng lên như vậy


Mặc dù không có nhiều lý do để tin rằng ngay lúc này Trung Quốc đã có được những số liệu trên bởi việc đo lường tăng trưởng khu vực dịch vụ không hề dễ dàng. Tuy nhiên, viễn cảnh từ sự điều tra dân số toàn quốc cho thấy kinh tế Trung Quốc qua mỗi năm có nhiều khả năng sẽ đạt mức tăng trưởng lớn hơn so với những gì mà chính phủ nước này đã tuyên bố trước đó. Điều nay cho thấy, ít nhất kinh tế Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản từ trước năm 2007. Còn nếu sử dụng khái niệm về ngang giá sức mua hay sức mua tương đương (Purchasing Power Parity) thì có thể kết luận kinh tế Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản từ những năm 1990. Và như những gì mà giới truyền thông vẫn tung hô, quả thực có những thời điểm kinh tế Trung Quốc đã vượt lên để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.


Sai lầm 4: Trung Quốc là chủ nợ của Mỹ.



Sự thật: Nếu Trung Quốc có khả năng gây ra những tác động tài chính tới Mỹ, ít nhất cũng chưa phải là vào lúc này.


Chính phủ Mỹ đang phải đối mặt và sẽ còn phải đối mặt với tình trạng thâm hụt ngân sách, điều sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tế Mỹ trong thập kỷ tới. Trung Quốc hiện đang nắm giữ khoảng 800 tỷ USD trái phiếu chính phủ Mỹ và một số lượng tương đối lớn giá trị tài sản tính bằng đồng đôla Mỹ ở nhiều hình thức khác. Nhiều người cho rằng, Trung Quốc đã cung cấp một lượng tiền không nhỏ để Mỹ tài trợ cho khoản thâm hụt ngân sách của mình. Thế nhưng nếu hiểu theo cách truyền thống rằng Mỹ thực sự cần tới Trung Quốc để có tiền thì lại là không đúng. Một phần là vì, do sự nhảy vọt về giá trị thâm hụt nên việc mua bán trái phiếu Trung Quốc trở nên không còn thích đáng.


Tổng lượng trái phiếu chính phủ Mỹ mà Trung Quốc mua vào năm 2009 giảm xuống dưới con số 100 tỷ USD, trong khi thâm hụt ngân sách chính phủ Mỹ cùng thời gian này tăng lên ngưỡng kỷ lục 1,4 nghìn tỷ USD. Tất nhiên, vào thời điểm này lãi suất cho vay thương mại cũng thấp hơn hồi cuối năm 2008, khi mà Trung Quốc đang nắm giữ lượng trái phiếu chính phủ Mỹ có tổng giá trị gần bằng một nửa thâm hụt ngân sách liên bang. Như vậy, chính phủ Trung Quốc chỉ nắm giữ lượng trái phiếu bằng khoảng 7% tổng giá trị nợ công của chính phủ Mỹ. Thêm vào đó, nguyên nhân khiến Trung Quốc quyết định mua thêm trái phiếu chính phủ Mỹ chỉ là vì Trung Quốc không còn lựa chọn nào khác khi mà Trung Quốc đang nắm giữ một lượng tiền lớn từ nguồn thặng dư thương mại so với các quốc khác trên thế giới cũng như tác động từ chính sách neo giá đồng nhân dân tệ so với đồng đôla Mỹ.


Điều này sẽ khiến Trung Quốc ngồi trên một lượng lớn đôla Mỹ và kinh tế Mỹ là nơi duy nhất đủ lớn, đủ ổn định để "hút" lượng đôla Mỹ dư thừa của Bắc Kinh. Như vậy, không phải là Trung Quốc đang cho vay, mà chính xác hơn, Trung Quốc đang phải đầu tư vào kênh đầu tư duy nhất mà mình có thể lựa chọn. Hơn nữa, Trung Quốc đang cố gắng buộc chặt đồng nhân dân tệ với đồng đôla Mỹ, vì vậy việc tự đưa kinh tế của mình gần gũi hơn với kinh tế Mỹ là lựa chọn tốt nhất của Trung Quốc. Và theo đó, cách hiểu tài chính Mỹ phụ thuộc vào Trung Quốc đã không còn đúng nữa.


Sai lầm 5: Trung Quốc và Mỹ phụ thuộc nhau một cách mạnh mẽ. Mối quan hệ Trung - Mỹ đã hình thành.



Sự thật: Trung Quốc phụ thuộc Mỹ nhiều hơn là Mỹ phụ thuộc Trung Quốc.


Việc Trung Quốc phụ thuộc vào Mỹ là sự thật, nhưng nó không hẳn giống với suy nghĩ thông thường của nhiều người. Đúng là xuất khẩu Trung Quốc sang Mỹ đã tăng mạnh. Năm 2008, nhu cầu của thị trường Mỹ chiếm tới 7,4% GDP Trung Quốc, thế nhưng con số này đã giảm dần trong năm 2009. Kể từ năm 1998, Trung Quốc hướng mạnh vào xuất khẩu, đặc biệt là khi nhu cầu thế giới tăng mạnh hồi năm 2006. Vì đầu tư mạnh vào lĩnh vực này nên lượng hàng hóa Trung Quốc sản xuất ra lớn hơn rất nhiều so với lượng hàng hóa quốc gia này tiêu thụ. Nếu không nhằm vào đầu ra thông qua xuất khẩu, chắc chắn "khủng hoảng thừa" sẽ dẫn tới giảm phát kinh tế và phá hoại sức tăng trưởng thần kỳ của kinh tế Trung Quốc. Nếu như Mỹ chủ trương mở cửa thương mại, kinh tế Trung Quốc vốn dựa vào xuất khẩu chắc chắn sẽ còn tăng trưởng, trong khi chủ nghĩa bảo hộ thương mại của Mỹ - nếu gia tăng - sẽ bóp chết cách thức tăng trưởng kinh tế này.


Mối tương quan trên cũng đúng đối với thị trường tài chính. Nếu không có được lượng lớn dự trữ ngoại hối bằng đồng đôla Mỹ cũng như trái phiếu chính phủ Mỹ, tỷ giá hối đoái và cơ chế thanh toán của Trung Quốc sẽ không thể hoạt động. Trung Quốc thu được lợi từ người tiêu dùng Mỹ nhưng phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống kinh tế thế giới do Mỹ đứng đầu. Trong khi đó, về phía Mỹ, Trung Quốc chỉ đơn thuần là nguồn cung cấp các mặt hàng tiêu dùng với mức giá rẻ nhất. Nếu không có Trung Quốc, hàng hóa của Mỹ có thể sẽ cao hơn, nhưng không thực sự tăng lên quá nhiều.


Quan niệm Mỹ cần Trung Quốc để tài trợ cho thâm hụt ngân sách rõ ràng không hợp lý. Đơn giản là vì giá trị thâm hụt ngân sách Mỹ quá lớn và vì thế lượng tiền Trung Quốc tài trợ cho Mỹ chỉ có thể hỗ trợ phần nào cho quốc gia này. Hơn thế nữa, lượng trái phiếu Mỹ mà Trung Quốc nắm giữ có vẻ sẽ không ảnh hưởng tới lãi suất cho vay của Mỹ. Do đó, có thể kết luận rằng: Trung Quốc phụ thuộc nhiều vào Mỹ để tiếp tục phát triển trong khi Mỹ  cộng tác với Trung Quốc chỉ bởi vì những lợi ích mà quốc gia này nhận được.


Sai lầm 6: Tỷ giá hối đoái được kiểm soát bởi chính phủ Trung Quốc đang là yếu tố trọng tâm của kinh tế toàn cầu.



Sự thật: Tỷ giá hối đoái Trung Quốc đang áp dụng chỉ đơn thuần là một trong những dấu hiệu của một vấn đề khác lớn hơn.


Tỷ giá hối đoái hiểu đơn thuần là giá của một đồng tiền này với một loại tiền khác. Khi tỷ giá hối đoái thay đổi, cung và cầu - trong trường hợp này là xuất khẩu và nhập khẩu - cũng sẽ thay đổi theo. Tuy nhiên, có những lúc tỷ giá hối đoái không thực sự là nguyên nhân chính dẫn tới sự thay đổi xuất nhập khẩu. Một ví dụ dễ thấy là trườn hợp đồng nhân dân tệ và đôla Mỹ. Từ tháng 7/2005 tới tháng 6/2008, đồng nhân dân tệ tăng 20% so với đồng đôla Mỹ nhưng thặng dư thương mại của Trung Quốc với Mỹ vẫn tăng lên gần 50%. Trong trường hợp này, tác động từ sự thay đổi tỷ giá không gây ra nhiều ảnh hưởng bằng các yếu tố khác từ chính bản thân hai nước Trung - Mỹ.


Về phía Mỹ, chính việc duy trì lãi suất cho vay cơ bản và tình trạng thâm hụt ngân sách chứ không phải đồng nhân dân tệ thấp mới là những nguyên nhân gây nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước này. Bên cạnh đó, việc đồng nhân dân tệ được neo giá với đôla Mỹ tác động tới tất cả các đối tác thương mại của Trung Quốc, không riêng gì Mỹ.


Thực tế, chính sự can thiệp quá sâu của chính phủ Trung Quốc vào nền kinh tế mới là yếu tố đáng lo ngại. Vì lợi ích của các doanh nghiệp nhà nước, chính phủ Trung Quốc đã ban hành các điều luật hạn chế cạnh tranh, cung cấp vốn dưới dạng tín dụng và trợ cấp giá năng lượng. Trong khi đó, các công ty tư nhân Trung Quốc không hề được hưởng điều này. Bên cạnh đó, giá cả hàng hóa do các doanh nghiệp nhà nước sản xuất thấp hơn nhiều so với hàng nhập khẩu bởi phần lớn chi phí sản xuất được hỗ trợ bởi cả chính phủ trung ương và chính quyền địa phương.


Nói tóm lại, chính sự can thiệp của chính phủ Trung Quốc thông qua các hình thức tài trợ đã kiềm chế tiêu dùng nội địa, đặc biệt là với các mặt hàng nhập khẩu. Và đây mới là nhân tố chính kinh tế toàn cầu nên quan tâm tới thay vì chỉ tập trung vào đồng nhân dân tệ thấp.


Sai lầm 7: Trung Quốc vẫn đang tiếp tục thực hiện cải cách thị trường, cho dù quá trình này có thể tạm dừng lại vì khủng hoảng tài chính.



Sự thật: Cải cách thị trường  Trung Quốc đã chậm dần lại từ năm 2002 và hoàn toàn ngừng hẳn vào năm 2005.


Những năm 1980, thế giới được chứng kiến sự bứt phá trong cải cách thị trường Trung Quốc. Nhưng sau khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, chính phủ Trung Quốc bắt đầu can thiệp sâu hơn vào thị trường. Quy định pháp luật buộc hầu hết các doanh nghiệp cốt lõi trong các lĩnh vực kinh tế đều phải nằm dưới sự quản lý của chính phủ và do đó, quyền tự quyết của các doanh nghiệp này bị mất đi. Bên cạnh đó, chính phủ thực hiện quyền kiểm soát đối với các doanh nghiệp còn lại trong nền kinh tế thông qua hệ thống tài chính.


Chính phủ cũng nắm trong tay các định chế tài chính, những tổ chức cấp tín dụng theo sự ưu tiên của chính phủ. Không khó để hiểu rằng chính các doanh nghiệp nhà nước lớn chứ không phải các công ty tư nhân sẽ nhận được nhiều ưu đãi khi xin vay vốn từ các định chế tài chính này. Vấn đề tự do hóa giá cả tiêu dùng trong nền kinh tế lại càng khó khăn hơn khi quyền can thiệp của chính phủ vào các vấn đề lương thực thực phẩm, chăm sóc sức khỏe và năng lượng vẫn còn quá lớn. Kết quả cuối cùng là sức cạnh tranh của các doanh nghiệp bị gói gọn lại trong cuộc chiến chính trị giữa chính các doanh nghiệp nhà nước.


Tính tới thời điểm hiện tại, có khoảng 17 doanh nghiệp nhà nước gần như độc quyền cung cấp và phân phối sản phẩm các ngành công nghiệp dầu mỏ, sản phẩm hóa dầu, than, gas, năng lượng, viễn thông và thuốc lá. Đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc cũng gặp nhiều khó khăn. Đơn cử, luật chống độc quyền chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp nước ngoài chứ không hề được áp dụng với các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc.


Sai lầm 8: Kinh tế Trung Quốc đang dần cân bằng nhờ việc đẩy mạnh tiêu dùng nội địa.



Sự thật: Trung Quốc vẫn đang đẩy mạnh đầu tư thay vì hướng tới tiêu dùng nội địa.


Thặng dư thương mại Trung Quốc năm 2009 giảm xuống 100 tỷ USD. Báo cáo của chính phủ Mỹ cũng cho thấy thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc cũng giảm đi, mặc dù mức giảm không lớn. Điều này là đúng khi coi nó là một sự kiện đáng hoan nghênh, nhưng lại là sai nếu coi đây là dấu hiệu cho thấy kinh tế Trung Quốc đang thay đổi. Thặng dư thương mại Trung Quốc giảm đi do xuất khẩu giảm mạnh hơn nhập khẩu. Nói cách khác, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc giảm đi nhưng nhu cầu thế giới đối với hàng hóa Trung Quốc còn giảm mạnh hơn, đặc biệt là sau khi khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra.


Tiêu dùng của Trung Quốc trước thời điểm khủng hoảng kinh tế bùng nổ có vẻ tăng trưởng mạnh mẽ. Nhưng thực tế, từ năm 2003 tới 2007, tiêu dùng nội địa bắt đầu giảm dần do đầu tư tăng mạnh và nhanh hơn. Giai đoạn năm 2008 - 2009 cũng không có nhiều thay đổi. Vai trò của đầu tư vẫn lớn hơn nhiều so với tiêu dùng. Tính tới năm 2009, giá trị đầu tư cố định tăng lên gấp đôi so với doanh thu bán lẻ, chiếm ít nhất 67% GDP trong nước và vẫn tiếp tục tăng nhanh.


Trong khi đó, sự tăng trưởng chóng mặt của đầu tư trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua đang ngày càng tăng thêm nguy cơ khủng hoảng thừa của nền kinh tế nước này. Đến lượt mình, nó sẽ tiếp tục gây thêm sức ép lên xuất khẩu Trung Quốc trong năm 2010 và những năm sắp tới. 


Sai lầm 9: Lượng khí thải nhà kính Trung Quốc thải ra hàng năm tương đương với Mỹ.



Sự thật: Lượng khí thải nhà kính của Trung Quốc lớn hơn Mỹ tới 25% và khoảng cách này đang ngày càng mở rộng.



Các nỗ lực cắt giảm khí thải nhà kính vốn không được thường xuyên nhắc tới như một chủ đề đáng lưu tâm khi đề cập tới kinh tế Trung Quốc, nhưng thực tế, vấn đề này nên nhận được sự quan tâm nhiều hơn. Bởi câu chuyện về việc cắt gảm khí thải nhà kính chính là nói về cách thức phát triển của kinh tế Trung Quốc chứ không đơn thuần chỉ là kích thước của nền kinh tế nước này.



Năm 2006, hầu hết các cơ quan quản lý đều xếp Trung Quốc và Mỹ ngang hàng về lượng khí nhà kính mà hai nền kinh tế thải ra. Tuy nhiên, ba năm sau đó là giai đoạn mà công nghiệp Trung Quốc có nhiều bước chuyển mạnh mẽ. Từ cuối năm 2007 tới nửa đầu năm 2008, lượng khí thải nhà kính của Trung Quốc đã tăng lên 10% so với Mỹ. Trong vòng 18 tháng sau đó, cùng thời điểm với khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang càn quét qua nhiều quốc gia, chính sách kích thích kinh tế khổng lồ cùng với định hướng sản xuất chú trọng vào công nghiệp nặng tiếp tục khiến tốc độ tăng trưởng khí thải nhà kính của Trung Quốc tăng mạnh. Kết quả là, tính đến hết năm 2009, lượng khí thải nhà kính mà Trung Quốc thải ra hoàn toàn có khả năng tăng lên tới 25% so với lượng khí thải nhà kính của Mỹ.



Tất cả các câu hỏi chưa có đáp án về những thông số của kinh tế Trung Quốc cũng được đặt ra cho ngành môi trường của quốc gia này. Và hẳn nhiên trong số đó, lượng khí thải nhà kính thực tế mà Trung Quốc thải ra hàng năm cũng là một con số chưa hẳn đã chính xác.



Sai lầm 10: Trung Quốc đã có một chương trình quốc gia về việc cắt giảm lượng khí thải nhà kính một cách bền vững.



Sự thật: Lượng khí thải nhà kính thực tế vẫn sẽ tăng mạnh trong vòng một thập kỷ tới.



Trung Quốc thực tế không hề cam kết sẽ cắt giảm khí thải nhà kính mà chỉ cam kết cắt giảm một phần lượng khí thải CO2 trên GDP, tức là việc cắt giảm lượng khí thải nhà kính được Trung Quốc tính toán dựa trên kích thước nền kinh tế. Trong khi đó, GDP lại được tính toán với nhiều cách điều chỉnh lạm phát cũng như điều chỉnh tiền tệ khác nhau. Điều này đặt ra nhiều vấn đề mới nảy sinh khi bàn bạc tới việc thực hiện cắt giảm khí thải nhà kính.



Ví dụ, năm 2005, lượng khí thải nhà kính xấp xỉ 5,43 tỷ tấn, tương đương với 2,95 tấn CO2 trên mỗi 10.000 nhân dân tệ của GDP. Trung Quốc đã cam kết sẽ cắt giảm con số này xuống khoảng 40% tới 45%, tức là đưa lượng khí thải nhà kính xuống còn khoảng 1,75 tấn CO2 trên mỗi 10.000 nhân dân tệ của GDP. Từ năm 2000 tới năm 1009, lượng GDP của Trung Quốc tăng lên 3,7 lần. Nếu tốc độ này được duy trì cho 10 năm tới, GDP Trung Quốc sẽ đạt khoảng 135 nghìn tỷ nhân dân tệ vào năm 2019. Và nếu vẫn sử dụng cách tính toán cách tính toán như trên, lượng khí thải nhà kính mà Trung Quốc thải ra sẽ tăng gấp 4 lần so với năm 2005, đạt khoảng 23 tỷ tấn.



Mỹ nên làm gì ngay lúc này?



Kinh tế Mỹ có được một nền tảng cơ bản cho sự tăng trưởng kinh tế vững chắc hơn so với kinh tế Trung Quốc. Để duy trì được vị trí đứng đầu thế giới, Mỹ nên chú trọng tới các chính sách về lợi thế công nghệ, tự nhiên và con người thay vì củng cố lợi ích từ sự can thiệp của chính phủ. Việc thực hiện các chính sách thương mại song phương và đa phương một cách rõ ràng, toàn diện và cởi mở chính là biện pháp tốt nhất để giúp kinh tế Mỹ phát triển cũng như đảm bảo được vị thế của kinh tế Mỹ đối với các nền kinh tế còn lại trên thế giới, trong đó có Trung Quốc. Những cuộc đàm phán trong thời gian này nên tập trung vào mục tiêu hàng đầu là cắt giảm khủng hưởng thừa của kinh tế Trung Quốc. Chính sách tỷ giá đôla - tệ lúc này vẫn chỉ xếp ở hàng thứ hai so với vấn đề vừa nêu ở trên.



Những hiểu nhầm liên quan tới kinh tế Trung Quốc dẫn tới những sai lầm trong chính sách kinh tế, chính sách đối ngoại cũng như những chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc. Việc có được một cái nhìn chính xác là bước đầu tiên nhưng cũng là bước quan trọng trước nhất để giúp Mỹ giải quyết được những thách thức thực tế mà quốc gia này đang phải đối mặt.


Thu Hiền (Theo Forbes) 
Tin dịch

 
Design by Wordpress Theme | Bloggerized by Free Blogger Templates | coupon codes